đề thi học sinh giỏi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:09' 17-12-2009
Dung lượng: 32.0 KB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Thuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:09' 17-12-2009
Dung lượng: 32.0 KB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TRƯỜNG
Năm học 2009 – 2010
Môn: Ngữ Văn 9
Thời gian: 150 phút (không kể thời gian chép đề)
Câu 1: 3,0 điểm) Xác định biện pháp tu từ trong những câu sau và phân tích giá trị sử dụng?
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Câu 2 4,0 điểm):
Cảm nhận của em trước bức hoạ tuyệt đẹp về mua xuân trong bốn câu thơ đầu đoạn trích: “Cảnh ngày xuân” (truyện Kiều” của Nguyễn Du).
Câu 3 (13,0 điểm):
Nhận xét về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, Nguyễn Du đã đau xót:
“ Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Bằng các tác phẩm đã học “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, em hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.
Đáp án
Câu 1: Sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ, mặt trời trong câu hai chỉ Bác Hồ.Tác dụng ca ngợi sự trường tồn của hình ảnh Bác
Câu 2:
Yêu cầu về nội dung:
- Cần làm bốn câu thơ đầu của đoạn trích “Cảnh ngày xuân” là một bức hoạ tuyệt đẹp về mùa xuân.
+ Hai câu thơ đầu gợi không gian và thời gian – Mùa xuân thấm thoát trôi mau. Không gian tràn ngập vẻ đẹp của mùa xuân, rộng lớn, bát ngát.
+ Hai câu thơ sau tập trung miêu tả làm nổi bật lên vẻ đẹp mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống, nhẹ nhàng, thanh khiết và có hồn qua: đường nét, hình ảnh, màu sắc, khí trời, cảnh vật,…
- Tâm hồn con người tươi vui, phấn chấn qua cái nhìn thiên nhiên trong trẻo, tươi tắn, hồn nhiên.
- Ngòi bút của Nguyễn Du tài hoa, giầu chất tạo hình, ngôn ngữ biểu cảm gợi tả.
b) Yêu cầu về hình thức:
- Trình bày thành văn bản ngắn. Biết vận dụng các thao tác biểu cảm để làm rõ nội dung.
- Câu văn mạch lạc, có cảm xúc.
- Không mắc các lỗi câu, chính tả, ngữ pháp thông thường (gọi chung là lỗi diễn đạt).
Câu 3:
1. Yêu cầu về nội dung:
* Học sinh phải vận dụng kiến thức đã học về văn bản và kiểu bài nghị luận văn học để giải quyết vấn đề đặt ra: số phận đầy đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
* Qua hai tác phẩm đã học: “Chuyện người con gái Nam Xương”, của Nguyễn Dữ và “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, ta cần làm rõ những nỗi đau khổ mà người phụ nữ phải gánh chịu.
Nàng Vũ Nương là nạn nhân của chế độ phong kiến nam quyền đầy bất công đối người phụ nữ.
+ Cuộc hôn nhân của Vũ Nương với Trương Sinh có phần không bình đẳng (Trương sinh xin mẹ mang trăm lạng vàng cưới Vũ Nương về làm vợ) – sự cách bức giàu nghèo khiến Vũ Nương luôn sống trong mặc cảm “thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu”, và cũng là cái thế để Trương Sinh đối xử với vợ một cách vũ phu, thô bạo và gia trưởng.
+ Chỉ vì lời con trẻ thơ ngây mà Trương sinh tin nên đã hồ đồ độc đoán mắng nhiếc, đánh đuổi Vũ Nương đi, không cho thanh minh, Vũ Nương buộc phải tìm đến cái chết để tự minh oan cho mình.
+ Cái chết đầy oan ức của Vũ Nương cũng không hề làm cho lương tâm Trương Sinh day dứt. Anh ta cũng không hề bị xã hội lên án. Ngay cả khi Vũ Nương bị nghi oan, Trương Sinh cũng coi nhẹ vì việc đã qua rồi. Kẻ bức tử Vũ Nương coi mình hoàn toàn vô can.
- Nàng Kiều lại là nạn nhân cũa xã hội đồng tiền đen bạc.
+ Vì tiền mà bọn sai nha gây nên cảnh tan tác, chia lìa trong gia đình Kiều.
“Một ngày lạ thói sai nha
Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”
+ Để có tiền cứu cha và em khỏi bị đánh đập, Kiều đã phải bán mình cho Mã Giám Sinh – một tên buôn thịt bán người, để trở thành món hàng cho hắn cân đong, đo đếm, cò kè mặc cả, ngã giá…
+ Cũng vì món lợi là đồng tiền mà Mã Giám Sinh và Tú Bà đã đẩy Kiều vốn chốn lầu xanh nhơ nhớp, khiến nàng phải đau đớn, cay đắng suốt mười lăm năm lưu lạc, phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.
- Những người phụ nữ như Vũ Nương, Thuý Kiều đều phải tìm đến cái chết để
 






Các ý kiến mới nhất